Kéo khối thép nặng 12.000 tấn ra biển nổi sừng sững, Việt Nam thành công làm chủ một công nghệ quan trọng

Admin
Việt Nam thành công làm chủ công nghệ phức tạp mà ít nước trên thế giới làm được.
Đưa khối thép nặng 12.000 tấn nổi sừng sững, Việt Nam thành công làm chủ một công nghệ quan trọng - Ảnh 1.

Ảnh minh họa

Giàn khoan tự nâng là thiết bị dầu khí đặc biệt phức tạp, có khả năng hoạt động độc lập giữa biển khơi, bảo đảm cho con người sinh sống và làm việc dài ngày như trong một thành phố thu nhỏ. Trên giàn được tích hợp hệ thống khoan dầu khí hiện đại, công nghệ định vị tiên tiến cùng các tính năng an toàn nghiêm ngặt, cho phép thực hiện hoạt động khoan tại những vùng biển xa bờ, điều kiện khắc nghiệt.

Năm 2011 đánh dấu cột mốc quan trọng khi Việt Nam lần đầu tiên chế tạo thành công giàn khoan tự nâng. Sự kiện này khẳng định năng lực của ngành cơ khí trong nước, từng bước làm chủ thiết kế, chế tạo và lắp ráp những sản phẩm cơ khí có hàm lượng công nghệ rất cao.

Một trong những dự án tiêu biểu là công trình “Nghiên cứu thiết kế chi tiết và ứng dụng công nghệ để chế tạo, lắp ráp và hạ thủy giàn khoan tự nâng ở độ sâu 90m nước phù hợp với điều kiện Việt Nam”, tức giàn khoan Tam Đảo 03. Dự án có tổng vốn đầu tư hơn 180 triệu USD, được khởi công từ tháng 6/2009, do Petrovietnam làm chủ đầu tư, với tỷ lệ nội địa hóa đạt khoảng 30%. Đây là dự án cơ khí trọng điểm quốc gia, nhằm chế tạo tổ hợp giàn khoan tự nâng di động quy mô lớn, phục vụ khoan thăm dò, sửa giếng và khai thác dầu khí trên biển.

Giàn khoan được thiết kế để chịu được các tải trọng khắc nghiệt của môi trường biển như sóng, gió, dòng chảy, ăn mòn và cả động đất. Đây là một giàn khoan cao 145 mét, nặng 12.000 tấn, hệ thống khoan có khả năng khoan sâu 6.000m dưới đáy biển. Để hoàn thiện công trình, các kỹ sư đã thi công gần 9.685 tấn kết cấu, 950 tấn đường ống công nghệ và 1.748 tấn thiết bị, bao gồm các hạng mục điện, tự động hóa và kiến trúc nội thất.

Ngày 23/11/2012, giàn khoan tự nâng Tam Đảo 03 chính thức hạ thủy tại Vũng Tàu, đánh dấu cột mốc lịch sử của ngành cơ khí dầu khí Việt Nam. Công trình là kết quả của quá trình thiết kế, chế tạo, lắp ráp đến hạ thủy do đội ngũ kỹ sư, công nhân PV Shipyard và các đơn vị trong ngành đảm nhiệm, với sự tư vấn công nghệ từ đối tác quốc tế.

Thành công của Tam Đảo 03 khẳng định Việt Nam đủ năng lực tự chế tạo giàn khoan biển, thay vì phụ thuộc nước ngoài, qua đó giúp nâng tầm năng lực công nghệ và vị thế quốc gia trong khai thác dầu khí ngoài khơi.

Theo Petrovietnam, Tam Đảo 03 được ví như “pháo đài thép” Made in Vietnam, biểu tượng cho quyết tâm hội nhập và khát vọng làm chủ công nghệ.

Đáng chú ý, việc chế tạo thành công các giàn khoan tự nâng trong nước đã đưa Việt Nam trở thành một trong số rất ít quốc gia trên thế giới có khả năng tự thiết kế chi tiết, chế tạo và chạy thử giàn khoan tự nâng hoạt động tại vùng biển sâu, khí hậu khắc nghiệt. Đây được xem là bước đột phá lớn, góp phần nâng cao năng lực tự chủ về khoa học – công nghệ, đáp ứng hoạt động khoan thăm dò tại hầu hết các vùng biển thuộc thềm lục địa Việt Nam.

Các giàn khoan tự nâng là công trình công nghệ đặc biệt, có kích thước siêu trường, siêu trọng, mức độ phức tạp cao và đòi hỏi sự phối hợp liên ngành chặt chẽ.

Theo kỹ sư Phan Tử Giang, người trực tiếp tham gia chế tạo giàn khoan Tam Đảo 05, quá trình thi công là thách thức chưa từng có. “Không phải chỉ đơn giản mua thiết kế cơ sở từ nước ngoài rồi điều chỉnh cho phù hợp với Việt Nam”, ông cho biết.

Ở nhiều quốc gia, việc đóng giàn khoan được hỗ trợ bởi những cần cẩu có sức nâng tới 20.000 tấn. Trong khi đó, vào thời điểm chế tạo Tam Đảo 05, Công ty CP Chế tạo giàn khoan Dầu khí chỉ sở hữu cẩu lớn nhất có tải trọng 3.500 tấn, chưa bằng 1/6 so với nước ngoài. Để đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và khối lượng tương đương, các kỹ sư Việt Nam buộc phải phát triển những giải pháp và công nghệ thi công riêng.

“Trong câu chuyện này thì ở nước ngoài họ làm nguyên 1 khối to, mình thì phải chia nhỏ ra. Công nghệ làm mình phải dựa trên những gì mình có. Đó là câu chuyện vì sao mang màu sắc của người Việt mặc dù giàn khoan vẫn dựa trên thiết kế cơ sở của nước ngoài. Đó là lý do tại sao hàm lượng công nghệ và tỷ lệ nội địa hoá lại lớn, bởi nó phù hợp điều kiện cơ sở vật chất, máy móc của Việt Nam”, kỹ sư Phan Tử Giang cho biết.